Tin Tức

NÊN KHỞI KIỆN ĐÒI NỢ RA TÒA ÁN HAY SỬ DỤNG DỊCH VỤ ĐÒI NỢ THUÊ ?

Ngày Đăng : 23/08/2019 - 3:17 PM

Thời gian qua, các vụ việc liên quan đến hoạt động “đòi nợ thuê” tại một số địa phương đã thu hút sự chú ý của dư luận, tuy nhiên đó chỉ là "sự biến tướng của đòi nợ thuê". Theo các luật sư và chuyên gia pháp lý, trong mọi tình huống việc thu hồi nợ cần phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành.

Hoạt động đòi nợ mang tính tất yếu trong nền kinh tế. Trong quan hệ tín dụng, người cho vay luôn thường xuyên gặp phải các vấn đề trong việc thu hồi nợ, xuất phát từ sự chây ỳ và thiếu hợp tác của người vay. Không có giải pháp đòi nợ hiệu quả, các tổ chức tín dụng  sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hoạt động và cung ứng dịch vụ tài chính đến khách hàng. 

Pháp luật hiện hành công nhận kinh doanh dịch vụ đòi nợ, hay nhiều người gọi là “đòi nợ thuê” như một loại dịch vụ. Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/06/2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ và Thông tư số 110/2007/TT-BTC ngày 12/09/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định số 104/2007/NĐ-CP cho phép Công ty dịch vụ thu hồi nợ (công ty dịch vụ đòi nợ) khi thành lập nhưng phải có vốn ký quỹ từ 2 tỷ đồng  trở lên tại ngân hàng đang hoạt động Việt Nam và bắt buộc không được sử dụng hoặc giải ngân trong quá trình hoạt động (theo quy định tại Điều 13 Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007). Điều kiện tiếp theo là khi thành lập công ty dịch vụ đòi nợ (công ty thu hồi nợ) công ty này bắt buộc phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo đúng quy định pháp luật về lĩnh vực thu hồi nợ hay đòi nợ. Tuy nhiên, có thể hiểu rằng, đây là một pháp nhân thực hiện thay công việc của chủ nợ, bao gồm: nhắc nợ qua điện thoại, nhắc nợ tại hiện trường và thay mặt chủ nợ tham gia tại tòa án theo ủy quyền để tiến hành các bước thu hồi nợ theo tố tụng.

Như vậy có thể thấy, việc thu hồi nợ, dịch vụ đòi nợ, công ty đòi nợ thuê là hoạt động được pháp luật cho phép thực  trên nguyên tắc tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hiện hành. Đó là điều kiện để hạn chế những hành vi biến tướng từ dịch vụ “đòi nợ thuê".

Hoạt động đòi nợ có thể được thực hiện bởi chính người cho vay hoặc thông qua một bên thứ ba, là các công ty đòi nợ, dịch vụ thu hồi nợ . Các tổ chức đòi nợ chuyên nghiệp có thể giúp việc thu nợ trở nên hiệu quả hơn, tiết kiệm về mặt chi phí và tránh các rủi ro pháp lý với người cho vay.Việc đòi nợ không nhất thiết phải bằng các hành vi bạo lực và khủng bố tinh thần. Các tổ chức thu hồi nợ chuyên nghiệp trên thực tế tồn tại ở hầu hết các quốc gia phát triển. Họ có thể tư vấn và cùng người vay thiết lập kế hoạch trả nợ khả thi. Họ cũng có thể tiến hành đàm phán với người vay về việc gia hạn và giảm một phần nợ vay tùy theo năng lực tài chính của người cho vay.

Không nên cấm hẳn kinh doanh dịch vụ đòi nợ bởi nó có thể gây khó khăn cho sự phát triển của các dịch vụ tài chính. Nếu không có giải pháp đòi nợ hiệu quả, các tổ chức tín dụng sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động và cung ứng tài chính cho khách hàng.

Việc thưa kiện người vay ra tòa để thu hồi nợ tiêu tốn của bên cho vay nhiều chi phí về pháp lý, nhân sự và thời gian. Đây sẽ chỉ là giải pháp cuối cùng được các tổ chức tín dụng và các bên cho vay khác lựa chọn khi các biện pháp đòi nợ thất bại.

Khi quyền lợi về mặt dân sự bị thiệt hại, người cho vay nếu không tự mình thu hồi nợ từ người vay thì có thể có quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét về khía cạnh nào đó trước mắt người cho vay sẽ phải tiêu tốn khá nhiều về chi phí, nhân sự, thời gian cho việc tố tụng hơn là giải pháp tìm đến các công ty dịch vụ đòi nợ thuê hỗ trợ khách hàng một cách "chuyên nghiệp – nhanh chóng – hiệu quả” mà không tốn bất kì chi phí nào trước.

Thực tế, Quy trình khởi kiện ra Tòa án để thu hồi nợ về cho bên vay gặp nhiều khó khăn bất cập. Cái khó ở đây là khi có phát sinh tranh chấp tài chính giữa người cho vay và người vay đó là tranh chấp về mặt dân sự, các bước để tiến hành thủ tục khởi kiện ra Tòa án dân sự lại tiêu tốn rất nhiều thời gian cho việc thưa kiện, có những trường hợp do toà án, cơ quan thi hành án làm chậm, không hiệu quả. Căn cứ Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện ra Tòa án là 02 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Như vậy, trường hợp các khoản nợ xấu, nợ khó đòi không thuộc thời hiệu trên thì không thể giải quyết. Thủ tục đòi nợ luôn khó thực hiện đặc biệt là thu hồi khoản nợ từ việc cho cá nhân vay tiền bởi người vay thường không có khả năng trả nợ, hơặc cố tình chây ỳ khất nợ. Đây thực sự là kẽ hở để người vay tẩu toán tài sản hoặc bỏ trốn, làm cho vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước còn khá "mờ nhạt".Theo Điều 8, Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13 quy định Quyền dân sự được xác lập từ các căn cứ: Hợp đồng, Hành vi pháp lí đơn phương, Quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định pháp luật, kết quả của lao động, sản xuất, kinh doanh, kết quả của hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, Chiếm hữu tài sản, Sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, bị thiệt hại do hành vi  trái pháp luật, thực hiện công việc không có ủy quyền, căn cứ khác do pháp luật quy định.

Các bước giải quyết thủ tục khởi kiện đòi nợ tại Tòa án Dân sự

1.Thủ tục thụ lý vụ án

Sau khi nhận hồ sơ khởi kiện nếu vụ việc thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Nếu vụ việc không thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện nhưng Đơn khởi kiện chưa đúng mẫu quy định hoặc không đủ các nội dung quy định thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo thời hạn ấn định.

Nếu vụ việc đủ điều kiện khởi kiện và đơn khởi kiện đã làm đúng theo quy định thì Tòa án cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

2.Thời hạn giải quyết vụ án:

Thời hạn hòa giải và chuẩn bị xét xử là từ 4-6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

Thời hạn mở phiên tòa: Trong thời hạn tối đa 02 tháng, kể từ ngày đưa vụ án ra xét xử.

Thời hạn hoãn phiên toà: không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Như vậy, căn cứ vào quy định khung về thời hạn giải quyết của Tòa án mà người cho vay thường gặp nhiều khó khăn. Thứ nhất, trong khoản thời gian hòa giải giữa Người cho vay và người vay sẽ phát sinh nhiều vấn đề bất cập. Người vay họ sẽ cố tình tránh mặt hoặc có mặt viện có lí do đưa ra những căn cứ không phù hợp để tiến trình hòa giải kéo dài nhằm mục đích chậm trả nợ vay hoặc không muốn trả nợ gây bất lợi cho người cho vay. Thứ hai, trong thời hạn mở phiên tòa cho đến khi có Quyết định thắng kiện của Tòa án cấp thẩm quyền  mất rất nhiều thời gian, chi phí, nhân sự cho việc đi lại kiện tụng . Khi đưa qua thi hành án chưa chắc đã lấy lại được tài sản của mình vì người vay đã tẩu tán tài sản từ trước. Điều này chính là kẻ hở của luật pháp. Nhiều khả năng người vay có khả năng trả nhưng cố tình không chịu trả nợ, mà cũng không đi trốn, cứ ung dung tự tại sống tại địa phương như không nợ ai.

 

 

 

 





Các tin khác

Tin tức - sự kiện